The Taming Novel (Thuần Hóa) - Chương 191
- Milana
Nhờ ân điển của ngài Anatole, chúng tôi không những được giữ lại làm việc tại lâu đài Scheleg, mà cô nhi viện cũng nhận được nguồn tài trợ.
Lẽ dĩ nhiên, lòng trung thành của chúng tôi dành cho gia tộc Scheleg càng thêm sâu đậm. Ngay cả Jenya lúc nào cũng buông lời cay nghiệt về giới quý tộc nay cũng đã đổi khác. Một đứa lúc nào cũng càu nhàu cự cãi, giờ đây lại lặng lẽ cặm cụi làm việc chẳng nửa lời oán thán. Thân phận con hoang đã bại lộ nhưng chúng tôi chẳng hề bị tống cổ, lũ trẻ ở cô nhi viện cũng không còn phải chờ chết vì cóng lạnh hay ốm đau, thế nên không chỉ riêng con bé, mà tất thảy những đứa khác cũng dần tìm lại được sự bình yên trong tâm hồn.
Thế nhưng, vụ trộm đá quý không vì thế mà bị coi như chưa từng xảy ra. Chúng tôi tuyệt đối không thể để lộ việc cô nhi viện đã cưu mang lũ con hoang. Bởi vậy, vụ việc chỉ được khép lại bằng lý do một hầu gái xuất thân từ cô nhi viện có tính táy máy mà thôi.
Cũng chính vì lẽ đó, những người hầu lâu năm trong lâu đài Scheleg chẳng thèm dành cho chúng tôi lấy một ánh nhìn thiện cảm. Đặc biệt là với tôi và Jenya, họ thường xuyên ném cho những cái nhìn khinh khỉnh, nhưng tôi chẳng mảy may thấy oan ức chút nào. Sai lầm vẫn hoàn sai lầm. Từ nay về sau, chúng tôi phải nỗ lực để chứng minh bản thân mình, chắc hẳn ngài Anatole cũng mong mỏi như vậy. Về điểm này, Jenya cũng hoàn toàn đồng tình. Có vẻ như con bé đã trưởng thành hơn đôi chút.
Ngày hôm ấy, tôi vẫn túc trực hầu hạ trong phòng ngài Anatole.
Lại một ngày bận rộn đến tối tăm mặt mũi. Dẫu vậy, thời gian vẫn vùn vụt thoi đưa, và ráng chiều xế tà đã chậm rãi buông xuống từ lúc nào chẳng hay. Lại một ngày nữa sắp sửa tàn lụi.
Ngài Anatole chỉ mải mê ngồi bên bàn làm việc, cặm cụi viết lách gì đó mà chẳng màng tới chuyện gì khác. Phục vụ một ngài Anatole tĩnh lặng như thế chẳng tốn mấy công sức, nên trong phòng lúc này chỉ có mình tôi túc trực.
“Hừm…”
Ngài Anatole đang cặm cụi viết với vẻ mặt vô cùng nghiêm trọng, tập trung đến độ mực dây dính cả ra đầu ngón tay, đôi lúc lại vò nát những tờ giấy da đắt đỏ trong cơn trầm tư nhọc nhằn.
…Phải chăng ngài ấy đang chắp bút cho một bài thơ mới?
Dẫu đã biết ngài Anatole chẳng có khiếu văn chương gì, nhưng nói đi cũng phải nói lại, tôi rốt cuộc cũng chỉ là một kẻ hầu người hạ… Tôi thiết nghĩ ngài Anatole chỉ cần là ngài Anatole thôi cũng đã quá đủ rồi. Bởi lẽ, ngài ấy là một người cao nhã, tuyệt mĩ, và ấm áp dịu dàng đến mức khó lòng tin được đó là một vị quý tộc cao ngạo.
…Vâng, đúng là thế đấy. Vài ba vần thơ thì có gì quan trọng cơ chứ? Chắc hẳn đám người hầu kẻ hạ nào cũng mang chung một suy nghĩ như tôi mà thôi. Thêm vào đó, có vẻ như chính ngài Anatole vẫn chưa mảy may nhận ra… nhưng tài năng thực sự của ngài ấy vốn dĩ được đặt ở một nơi khác, chứ tuyệt nhiên không phải là thơ ca.
“…….”
Ngài Anatole dùng đầu ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn, cộc, cộc.
…A, có vẻ như đây chính là khoảnh khắc tài năng ấy tỏa sáng rồi.
Chẳng mấy chốc, ngài Anatole bắt đầu ngân nga một khúc hát. Tiếng hát êm ái, dịu dàng y hệt như chất giọng đong đầy tình cảm chậm rãi lấp đầy không gian căn phòng.
—Tôi vô tình phát hiện ra thứ tài năng đáng kinh ngạc này của ngài Anatole vào một ngày cách đây không lâu. Đó là lúc tôi vừa chạy ra ngoài làm chút việc vặt.
Sau khi mang chiếc đồng hồ để bàn bị hỏng giao cho hầu nam sửa chữa và quay lại, một hầu nữ đang đứng gác cho biết ngài Anatole đã sang thư phòng. Tôi hối hả bước đi để báo cáo lại tình hình. Đúng lúc rẽ vào lối dẫn đến thư phòng, một âm sắc mềm mại chợt vang lên tựa như đang cất tiếng chào đón tôi.
…Một âm sắc lạ lẫm, một giai điệu lạ lẫm.
Chẳng có lấy một nét thân thuộc, nhưng tôi lại bị cuốn hút ngay tắp lự. Đôi chân tôi cứ thế vô thức bước về phía thư phòng. Tôi nín thở, cẩn trọng đẩy cánh cửa nặng trịch để không phát ra tiếng động.
Nhưng ôi thôi, cánh cửa lại phát ra một tiếng “kẽo kẹt” rõ to. Xem ra, tôi quả thực chẳng có chút khiếu rình mò nào cả.
<…….>
Giây phút ấy, tiếng hát của ngài Anatole vụt tắt.
<…Đã về rồi sao? Ta đang định quay lại phòng đây, ngươi cứ đợi ở đó có phải hơn không.>
Dù bị tôi đường đột quấy rầy, ngài ấy vẫn dịu dàng lên tiếng.
<A, không sao đâu ạ!>
<Ừm, vất vả cho ngươi rồi.>
Nói rồi, ngài ấy lại chăm chú vào cuốn sách trên tay. Đó xem như một sự ưng thuận ẩn ý. Tôi rón rén bước vào thư phòng, dặn lòng phải hết sức cẩn trọng để không làm phiền ngài ấy thêm lần nào nữa.
Ngài Anatole vừa chậm rãi lướt qua những kệ sách vừa tiếp tục ngân nga hát. Không phải vì ngài ấy là Chủ nhân nên tôi mới buông lời xu nịnh, nhưng đó quả thực là một chất giọng êm tai đến lạ kỳ.
Kể từ bận đó, mỗi khi tâm trạng vui vẻ, ngài Anatole lại thỉnh thoảng cất tiếng hát. Những lúc như thế, đám người hầu chúng tôi ai nấy đều vờ như không để ý, nhưng thực chất lại dỏng tai lên nghe từng nhịp điệu.
…Giờ ngẫm lại, lần đầu tiên tôi được nghe ngài Anatole hát dường như là sau khi Chủ nhân trở về lâu đài thì phải.
Dẫu sao đi nữa, đó là một âm vực trầm ấm mượt mà y như chính tâm tính của ngài ấy vậy. Đôi khi ngài Anatole hát thành lời, đôi khi lại chỉ ngân nga giai điệu. Là do ngài ấy cất giọng nên bài hát mới tuyệt hay, hay vốn dĩ bài hát đã hay nên ngài ấy mới hát? Người ta đồn rằng phương Nam là vùng đất ươm mầm nghệ thuật, quả nhiên danh bất hư truyền. Dù rằng việc chỉ nhìn vào một con người để phán xét cả một vùng lãnh thổ rộng lớn thì có vẻ hơi khiên cưỡng.
Vạt nắng của buổi chiều tà chậm rãi buông rèm trong phòng khách. Thứ ánh sáng rực rỡ ấy vương trên tấm thảm nhung, lấp loáng đọng lại từng tầng từng lớp trên mặt bàn và những xấp giấy da.
Lắng nghe khúc hát của ngài ấy, một cảm xúc vô cùng kỳ lạ cuộn trào trong tôi. Một đứa con hoang đáng lẽ ra đã chết cóng trên con đường tuyết lạnh từ lâu như tôi, vậy mà sau khi thân phận nhơ nhuốc bị phơi bày, lại vẫn có thể đắm mình trong sự bình yên nhường này sao.
Dẫu công việc hầu gái có nhọc nhằn, nhưng so với ở cô nhi viện thì vẫn còn sung sướng chán. Ở cái chốn ấy, bất kể lớn bé bao nhiêu tuổi, hễ đã há miệng ăn thì phải cắm đầu vào làm. Từ cái ngày bé tí bị vứt bỏ giữa trời tuyết trắng cho đến tận bây giờ, đời tôi là một chuỗi dài những ngày tháng lao động quần quật không ngơi nghỉ. Phần lớn những đứa trẻ được đưa đến đó đều đã từng qua tay tôi dìu dắt chăm bẵm.
Thế mà giờ đây, tôi lại có thể sống một cuộc đời bình dị đến thế này…
“Ở phương Bắc, người ta hay hát những bài gì thế?”
Ngài Anatole chợt cất tiếng hỏi, tay vẫn thoăn thoắt đưa bút, nhưng tiếng hát dĩ nhiên đã ngừng.
“Dạ?”
Thoạt đầu, tôi còn chẳng dám nghĩ ngài ấy đang hỏi mình.
“Lúc dạo quanh lâu đài, ta tình cờ thấy đám người hầu dưới nhà bếp đang hát.”
Vừa dứt lời, ngài Anatole liền hát lại một cách gượng gạo. Dù chỉ vỏn vẹn vài câu, nhưng sai lời nhiều đến nỗi tôi bất giác bật cười thành tiếng.
“…Tôi, tôi xin lỗi ngài.”
Tôi vội vã tạ lỗi ngay tức lự. Một đứa hầu gái mà dám cười cợt nhả, nếu đổi lại là vị Chủ nhân nóng tính kia, e rằng tôi đã bị ăn một trận đòn rồi.
“Không sao đâu.”
Ngài Anatole bao dung lại có vẻ vui khi thấy tôi bật cười rạng rỡ như thế.
“Ta có hỏi mấy người hầu khác, nhưng chẳng ai chịu chỉ cho ta cả.”
Chuyện đó là lẽ đương nhiên rồi. Tôi thầm nhủ trong bụng.
Trên đời này làm gì có công việc nào là không nhọc nhằn, nhưng việc bếp núc lại càng cơ cực bội phần. Quần quật luôn chân luôn tay chẳng có lấy một phút ngả lưng, thế nên thỉnh thoảng họ lại hát lên vài câu để cắn răng gồng gánh qua những chuỗi ngày lao động khổ sai. Đem những câu hát xướng của đám người dưới đáy xã hội đi dạy cho ngài ấy thì ngượng ngùng đã đành… nhưng có vẻ như ngài Anatole vẫn chưa nghe được nửa sau của bài hát thì phải.
<Thái này thái này thái củ cà rốt này, băm nhuyễn thịt này, nhân tiện nhét luôn cả cái đầu của Chủ nhân nhà ta vào nồi rồi đun sôi sùng sục lên cho bõ ghét…>
Nếu mà đem những lời lẽ này dạy cho ngài Anatole, đảm bảo tôi sẽ bị Chủ nhân gõ đầu lôi đi hỏi tội ngay lập tức.
“Ngươi cũng không biết bài đó sao?”
“…Vâng ạ.”
Quả thực tôi không hề có ý lừa dối ngài ấy, nhưng trong tình cảnh này, thì dẫu có là ai đi chăng nữa cũng chỉ đành cắn răng đáp “Vâng” mà thôi.
“Vậy ngươi có thể dạy ta một bài hát nào khác không?”
Ôi trời đất ơi, thà rằng tôi cứ dạy bừa cái bài hát dưới nhà bếp kia cho xong!
“Tôi không dám múa rìu qua mắt thợ trước mặt ngài Anatole…”
Tôi ra sức chối từ, nhưng dường như đang buồn chán nên ngài Anatole cứ nằng nặc nài nỉ mãi.
“Ta sẽ giữ bí mật mà. Dù sao thì ở đây cũng chỉ có ta và ngươi thôi, đúng không?”
Thật là khó xử hết sức. Nhưng việc khước từ ngài Anatole lại càng là một chuyện khó khăn hơn vạn phần.
…Từ chối lời nhờ vả của một vị quý tộc thì thật thất lễ, nên thà rằng tôi cứ hát đại một bài cho xong chuyện rồi chuồn đi tìm lại sự tự do còn hơn.
“V-Vậy thì… xin phép ngài chỉ một đoạn ngắn thôi ạ… Hừm, hừm.”
Tôi hắng giọng lấy hơi. Trước nay, tôi chưa từng cất tiếng hát trước mặt một vị quý tộc nào như ngài Anatole. Chẳng bao giờ có chuyện có một thính giả sẵn sàng ngồi ngay ngắn để thưởng thức giọng hát của tôi cả. Cảm giác lúc này y hệt như tôi là một cô đào hát vừa đặt chân lên ánh đèn sân khấu vậy.
Tôi vượt qua nỗi thẹn thùng bủa vây, rụt rè cất lời ca. Đó chỉ là một khúc hát ngắn gọn và mộc mạc.